Cầu nguyện...... cho Hội Thánh và dân tộc Việt Nam Chúng ta đang sống trong thời điểm kề cận với sự trở lại của Đấng Christ là thời điểm mà trong Hội Thánh có sự bội đạo, ngoài Hội Thánh có sự cứng lòng. Chúng ta hãy cùng nhau dọn lòng, sống thánh khiết theo Lời Chúa dạy, chuẩn bị cho ngày Chúa đến. Chúng ta hãy giữ mình trong Lời Chúa, xa cách những tà giáo, ngụy thuyết của thế gian đang được các giáo sư giả và tiên tri giả rao giảng trong Hội Thánh. Chúng ta hãy hết lòng cầu thay cho Hội Thánh được đứng vững trong ân điển của Chúa và trong sự hiểu biết đức tin đến từ Lời Chúa. Chúng ta hãy hết lòng cầu thay cho dân tộc Việt Nam, trong đó bao gồm gia đình, bà con, bạn bè của chúng ta là những người chưa tiếp nhận sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời trong Đấng Christ. Hãy cầu cho họ được sống cho đến thời đại nạn để nhìn thấy những lời tiên tri đang được ứng nghiệm mà hết lòng ăn năn tội, tiếp nhận sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời. Sống Lời ChúaHuỳnh Christian Priscilla Chú Giải Khải HuyềnNghe bài giảngBấm vào tựa bài để nghe
Xem Video Bài GiảngĐăng nhậpMenu chínhNội dung
Bài bình luận gần đây
Bài blog gần đâyNối mạng
Các websites: Thánh Nhạc Kỹ thuật Internet:
Tự Điển Trên Mạng:
Thành viên mớiCounter
|
Tiếng Mới và Ân Tứ Nói Ngoại NgữThánh Kinh Việt ngữ dùng bốn từ ngữ "tiếng mới," "tiếng lạ," "các thứ tiếng" và "tiếng ngoại quốc" để dịch hai từ ngữ hoàn toàn khác nhau trong nguyên ngữ Hy-lạp. Sự khác nhau đó là thế nào? Xin được trình bày dưới đây. I. Dữ kiện Trước hết, xin liệt kê các câu Thánh Kinh Việt ngữ có các từ ngữ "tiếng mới," "tiếng lạ," "các thứ tiếng" và "tiếng ngoại quốc." Kèm theo các từ ngữ đó là nguyên ngữ Hy-lạp và từ Anh ngữ tương đương được đặt trong hai dấu ngoặc vuông [ ]. Xin chú ý, cách dùng số ít "language" và số nhiều "languages" trong tiếng Anh là phản ánh trung thực từ nguyên ngữ: 1. Tiếng mới Mác 16:17 2. Tiếng lạ I Cô-rinh-tô 12:30 "Cả thảy đều được ơn chữa bịnh sao? Cả thảy đều nói tiếng lạ [glōssa - languages] sao? Cả thảy đều thông giải tiếng lạ [trong nguyên ngữ chỉ có chữ "diermēneuō" nghĩa là phiên dịch, không có chữ "glōssa"] sao?" I Cô-rinh-tô 13:8 "Tình yêu thương chẳng hề hư mất bao giờ. Các lời tiên tri sẽ hết, sự ban cho nói tiếng lạ [glōssa - languages] sẽ thôi, sự thông biết hầu bị bỏ." I Cô-rinh-tô 14:2 "Vì người nào nói tiếng lạ [glōssa - languages], thì không phải nói với người ta, bèn là với Đức Chúa Trời, bởi chẳng có ai hiểu (ấy là trong tâm thần mà người kia nói lời mầu nhiệm)." I Cô-rinh-tô 14:4 "Kẻ nói tiếng lạ [glōssa - language], tự gây dựng lấy mình; song kẻ nói tiên tri, gây dựng cho Hội thánh." I Cô-rinh-tô 14:5 "Tôi ước ao anh em đều nói tiếng lạ [glōssa - languages] cả, song tôi còn ước ao hơn nữa là anh em nói tiên tri. Người nói tiên tri là trọng hơn kẻ nói tiếng lạ [glōssa - languages] mà không giải nghĩa để cho Hội thánh được gây dựng." I Cô-rinh-tô 14:6 "Hỡi anh em, ví bằng tôi đến cùng anh em, nói các thứ tiếng lạ [glōssa - languages], mà lời nói tôi chẳng tỏ sự mầu nhiệm, chẳng có sự thông biết, chẳng có lời tiên tri, chẳng có sự khuyên dạy, thì ích gì đến anh em?" I Cô-rinh-tô 14:13 "Bởi đó, kẻ nói tiếng lạ [glōssa - language], hãy cầu nguyện để được thông giải tiếng ấy." I Cô-rinh-tô 14:14 "Vì nếu tôi cầu nguyện bằng tiếng lạ [glōssa - language], thì tâm thần tôi cầu nguyện, nhưng trí khôn tôi lơ lửng." I Cô-rinh-tô 14:18 "Tôi tạ ơn Đức Chúa Trời, vì đã được ơn nói tiếng lạ [glōssa - languages] nhiều hơn hết thảy anh em." I Cô-rinh-tô 14:19 "nhưng thà tôi lấy năm lời bằng trí khôn mình mà rao giảng trong Hội thánh, để được dạy bảo kẻ khác, hơn là lấy một vạn lời bằng tiếng lạ [glōssa - language]." I Cô-rinh-tô 14:21 "Trong luật pháp có chép rằng: Chúa phán: Ta sẽ nhờ những người nói tiếng lạ [glōssa - languages], và môi miệng người ngoại quốc mà phán cho dân nầy; dầu vậy họ cũng chẳng nghe ta." "Vậy thì cả Hội thánh nhóm lại một nơi, nếu ai nấy đều nói tiếng lạ [glōssa - languages], mà có kẻ tầm thường hoặc người chẳng tin vào nghe, họ há chẳng nói anh em là điên cuồng sao?" I Cô-rinh-tô 14:26 "Hỡi Anh em, nên nói thể nào? Khi Anh em nhóm lại với nhau, trong anh em, ai có bài ca, hoặc bài giảng dạy, hoặc lời tỏ sự kín nhiệm, hoặc nói tiếng lạ [glōssa - languages], hoặc giải tiếng lạ [trong nguyên ngữ chỉ có chữ "hermēneia" nghĩa là thông giải, không có chữ "glōssa"] chăng? Hãy làm hết thảy cho được gây dựng." I Cô-rinh-tô 14:27 "Ví bằng có người nói tiếng lạ [glōssa - language], chỉ nên hai hoặc ba người là cùng; mỗi người phải nói theo lượt mình, và phải có một người thông giải." I Cô-rinh-tô 14:39 "Ấy vậy, hỡi anh em, hãy trông mong ơn nói tiên tri, và đừng ngăn trở chi về điều nói tiếng lạ [glōssa - languages]." 3. Các thứ tiếng khác Công Vụ Các Sứ Đồ 2:4 "Hết thảy đều được đầy dẫy Đức Thánh Linh, khởi sự nói các thứ tiếng khác, theo như Đức Thánh Linh cho mình nói." I Cô-rinh-tô 14:22 4. Tiếng ngoại quốc Công Vụ Các Sứ Đồ 10:46 "Vì các tín đồ nghe họ nói tiếng ngoại quốc [glōssa - languages] và khen ngợi Đức Chúa Trời." "Sau khi Phao-lô đã đặt tay lên, thì có Đức Thánh Linh giáng trên chúng, cho nói tiếng ngoại quốc [glōssa - languages] và lời tiên tri." II. Nhận xét: 1. Nói tiếng lạ hay nói ngoại ngữ? Trước hết, chúng ta cần xác định ý nghĩa của chữ "glōssa" trong nguyên tác Hy-lạp. Theo Thayer’s Greek Definitions (Bộ Định Nghĩa Tiếng Hy-lạp của Thayer) thì "glōssa" bao gồm các nghĩa như sau: (1) cái lưỡi, một chi thể của thân thể, một cơ quan của sự nói (2) một ngôn ngữ: ngôn ngữ hay thổ ngữ được dùng bởi một sắc dân khác với [ngôn ngữ hay thổ ngữ] của các quốc gia khác. Như vậy, chữ "glōssa" được dùng trong tất cả các câu Thánh Kinh trưng dẫn trên đây dù là số ít hay số nhiều cũng đều mang nghĩa thứ (2), tức là ngôn ngữ. Khi chữ "glōssa" được dùng ghép với động từ "laleō" (nói) thành "laleō glōssa" thì luôn luôn mang ý nghĩa: "nói tiếng ngoại quốc." Chúng ta thấy trong các câu Thánh Kinh được trích dẫn không hề có tính từ "xenos" (lạ) kèm theo "glōssa" cho nên không thể dịch là "tiếng lạ." Điển hình về việc dùng tính từ "xenos" (lạ) là: "Vì Ta đói, các ngươi đã cho Ta ăn; Ta khát, các ngươi đã cho Ta uống; Ta là khách lạ, các ngươi tiếp rước Ta." (Ma-thi-ơ 25:35) "Rồi họ bàn với nhau dùng bạc đó mua ruộng của kẻ làm đồ gốm để chôn những khách lạ." (Ma-thi-ơ 27:7) "Anh em chớ để cho mọi thứ đạo lạ dỗ dành mình; vì lòng nhờ ân điển được vững bền, ấy là tốt, chớ không phải nhờ đồ ăn, là sự chẳng ích chi cho kẻ làm như vậy." (Hê-bơ-rơ 13:9) Như vậy, trừ trường hợp của Mác 16:17 mà chúng ta sẽ bàn tiếp dưới đây, tất cả các câu Thánh Kinh còn lại có từ ngữ "laleō glōssa" nên dịch thành "nói tiếng ngoại quốc" hoặc "nói ngoại ngữ." Sách Công Vụ Các Sứ Đồ ghi lại ba trường hợp các môn đồ được đầy dẫy Thánh Linh và được ơn nói tiếng ngoại quốc mà chúng ta có thể dùng đó để xác chứng chỉ có ân tứ nói ngoại ngữ chứ không hề có "ân tứ nói tiếng lạ!" Điểm cần chú ý là mỗi khi ân tứ nói ngoại ngữ được thể hiện thì đều có sự ấn chứng của những người chứng kiến, rằng người đang nói ngoại ngữ đó nói lên những sự cao trọng của Đức Chúa Trời mà tôn vinh Ngài hoặc nói tiên tri. Đây là điểm rất quan trọng để phân biệt giữa ân tứ nói ngoại ngữ do Đức Thánh Linh ban cho con dân Chúa với sự "nói tiếng lạ" đến từ tà linh. Người viết bài này đã từng chứng kiến cảnh một tín đồ bị quỷ ám "nói tiếng lạ" và sau đó "nói ngoại ngữ" (tiếng Anh) một cách lưu loát để giảng Tin Lành. Người này trước đó không thông thạo Anh ngữ. Mặc dù giảng Tin Lành một cách thông suốt nhưng lại tự xưng là Đức Chúa Jesus và lại nói rằng rất yêu người nữ tín đồ đang bị nhập xác đó, muốn có con với người nữ tín đồ đó... thì rõ ràng là hiện tượng quỷ nhập, chưa kể các biểu hiện nói lãm nhảm, cười, khóc, trợn trắng, thè lưỡi, sùi nước bọt rất là bất bình thường. Chính nạn nhân vào lúc tỉnh cũng biết mình bị quỷ nhập. a) Công Vụ Các Sứ Đồ 2:1-11 1 Đến ngày lễ Ngũ Tuần, môn đồ nhóm họp tại một chỗ. b) Công Vụ Các Sứ Đồ 10:44-46 44 Khi Phi-e-rơ đương nói, thì Đức Thánh Linh giáng trên mọi người nghe đạo. c) Công Vụ Các Sứ Đồ 19:6 Sau khi Phao-lô đã đặt tay lên, thì có Đức Thánh Linh giáng trên chúng, cho nói tiếng ngoại quốc và lời tiên tri. 2. Tiếng mới Từ ngữ này chỉ được dùng có một lần trong Mác 16:17 và chắc chắn là có một ý nghĩa khác biệt với ân tứ nói ngoại ngữ là một trong các ân tứ do Đức Thánh Linh "theo ý Ngài muốn, phân phát sự ban cho riêng cho mỗi người" (I Cô-rinh-tô 12:11): "Vậy những kẻ tin sẽ được các dấu lạ nầy: lấy danh Ta mà trừ quỉ; dùng tiếng [glōssa - languages] mới [kainos - new] mà nói." Trong nguyên tác, tính từ "kainos" có nghĩa là "mới" được dùng chung với danh từ "glōssa" số nhiều. Nếu dịch câu trên cho sát với nguyên tác thì sẽ như sau: "Và những dấu hiệu này sẽ theo những kẻ tin: Trong danh Ta họ sẽ đuổi quỷ, họ sẽ nói những thứ tiếng mới." Tiếng mới hay ngôn ngữ mới ở đây khác với ngoại ngữ hay tiếng ngoại quốc được dùng trong những câu Thánh Kinh chúng ta vừa bàn đến phía trên. Tiếng mới này là tiếng của những người đã được dựng nên mới sử dụng: Tiếng của sự yêu thương! Chỉ có những ai đã được dựng nên mới thì mới biết và dùng thứ tiếng mới này. Khi một người đã được dựng nên mới thì "những sự cũ đã qua đi" trong đó có luôn thứ tiếng cũ của hận thù, cay đắng, châm chọc, mỉa mai, thô tục, kiêu ngạo... "Vậy, nếu ai ở trong Đấng Christ, thì nấy là người dựng nên mới; những sự cũ đã qua đi, nầy mọi sự đều trở nên mới." (II Cô-rinh-tô 5:17) Trong khi "nói ngoại ngữ" là một trong các ân tứ do Đức Thánh Linh "theo ý Ngài muốn, phân phát sự ban cho riêng cho mỗi người" nghĩa là không phải con dân Chúa nào cũng nhận được thì "nói tiếng mới" là một dấu hiệu đi theo những kẻ tin! Nghĩa là, bất kỳ ai thực lòng tin nhận Chúa, được tái sinh thì đều nói tiếng mới! Từ ngữ "tiếng mới" được dùng trong Mác 16:17 dưới hình thức số nhiều cho chúng ta biết người thuộc dân tộc nào, ngôn ngữ nào, khi được đổi mới sẽ dùng tiếng mới của chính dân tộc đó, ngôn ngữ đó. Nếu tôi là người Việt Nam được dựng nên mới trong Đấng Christ thì tôi sẽ nói một thứ tiếng Việt Nam mới, là thứ tiếng Việt Nam thể hiện sự thương xót, công bình và thánh khiết của Đức Chúa Trời. Người không thật lòng tin Chúa thì không có được các dấu hiệu "nói tiếng mới," "trong danh Chúa trừ quỷ..." cho nên họ vẫn còn nói năng thô tục, giả ngộ tầm phào, bàn chuyện huyễn, và không ngại thốt ra những lời cay độc, kiêu căng, ngạo mạn... Những người như thế dễ dàng bị sập bẫy của Satan để khoác cho mình những thứ "ân tứ giả" như: "nói tiếng lạ," "chữa bệnh," "đuổi quỷ," "nói tiên tri..." vì họ không có được dấu hiệu thật của những người đã thật lòng "tự bỏ mình đi, mỗi ngày vác thập tự giá mình mà theo" Chúa! (Lu-ca 9:23). Kết luận Ngày nay, hiện tượng "nói tiếng lạ" là một trong những động cơ phá tán Hội Thánh Chúa một cách đáng sợ nhất. Nhiều người chăn bầy thiếu khôn ngoan (mà lại không cầu xin Chúa - Gia-cơ 1:5) để phân biệt ân tứ nói ngoại ngữ đến từ Đức Thánh Linh với hiện tượng "nói tiếng lạ" đến từ tà linh cho nên đã dung chứa các sứ giả của Satan trong Hội Thánh (II Cô-rinh-tô 11:14, 15). Hậu quả là trong vòng ba năm Hội Thánh địa phương bị phá tán. Hy vọng rằng trong các bản hiệu đính hoặc trong các bản dịch tương lai, Thánh Kinh Việt ngữ sẽ không còn những thiếu sót về thuật ngữ khiến gây ra những hiểu lầm, ảnh hưởng tai hại đến sự hiểu biết và áp dụng Lời Chúa vào trong cuộc sống của con dân Chúa người Việt.
Phụ lục Chúng ta hãy thử thay thế từ ngữ "tiếng lạ" bằng từ ngữ "ngoại ngữ" vào các câu Thánh Kinh dưới đây sẽ thấy ý nghĩa rất khác:
I Cô-rinh-tô 12:30 "Cả thảy đều được ơn chữa bịnh sao? Cả thảy đều nói ngoại ngữ sao? Cả thảy đều thông giải ngoại ngữ sao?" I Cô-rinh-tô 13:8 "Tình yêu thương chẳng hề hư mất bao giờ. Các lời tiên tri sẽ hết, sự ban cho nói ngoại ngữ sẽ thôi, sự thông biết hầu bị bỏ." I Cô-rinh-tô 14:2 "Vì người nào nói ngoại ngữ, thì không phải nói với người ta, bèn là với Đức Chúa Trời, bởi chẳng có ai hiểu (ấy là trong tâm thần mà người kia nói lời mầu nhiệm)." I Cô-rinh-tô 14:4 "Kẻ nói ngoại ngữ, tự gây dựng lấy mình; song kẻ nói tiên tri, gây dựng cho Hội thánh." I Cô-rinh-tô 14:5 "Tôi ước ao anh em đều nói ngoại ngữ cả, song tôi còn ước ao hơn nữa là anh em nói tiên tri. Người nói tiên tri là trọng hơn kẻ nói ngoại ngữ mà không giải nghĩa để cho Hội thánh được gây dựng." I Cô-rinh-tô 14:6 "Hỡi anh em, ví bằng tôi đến cùng anh em, nói các thứ ngoại ngữ, mà lời nói tôi chẳng tỏ sự mầu nhiệm, chẳng có sự thông biết, chẳng có lời tiên tri, chẳng có sự khuyên dạy, thì ích gì đến anh em?" I Cô-rinh-tô 14:13 "Bởi đó, kẻ nói ngoại ngữ, hãy cầu nguyện để được thông giải tiếng ấy." I Cô-rinh-tô 14:14 "Vì nếu tôi cầu nguyện bằng ngoại ngữ, thì tâm thần tôi cầu nguyện, nhưng trí khôn tôi lơ lửng." I Cô-rinh-tô 14:18 "Tôi tạ ơn Đức Chúa Trời, vì đã được ơn nói ngoại ngữ nhiều hơn hết thảy anh em." I Cô-rinh-tô 14:19 "nhưng thà tôi lấy năm lời bằng trí khôn mình mà rao giảng trong Hội thánh, để được dạy bảo kẻ khác, hơn là lấy một vạn lời bằng ngoại ngữ." I Cô-rinh-tô 14:21 "Trong luật pháp có chép rằng: Chúa phán: Ta sẽ nhờ những người nói ngoại ngữ, và môi miệng người ngoại quốc mà phán cho dân nầy; dầu vậy họ cũng chẳng nghe ta." I Cô-rinh-tô 14:23 "Vậy thì cả Hội thánh nhóm lại một nơi, nếu ai nấy đều nói ngoại ngữ, mà có kẻ tầm thường hoặc người chẳng tin vào nghe, họ há chẳng nói anh em là điên cuồng sao?" I Cô-rinh-tô 14:26 "Hỡi Anh em, nên nói thể nào? Khi Anh em nhóm lại với nhau, trong anh em, ai có bài ca, hoặc bài giảng dạy, hoặc lời tỏ sự kín nhiệm, hoặc nói ngoại ngữ, hoặc giải ngoại ngữ chăng? Hãy làm hết thảy cho được gây dựng." I Cô-rinh-tô 14:27 "Ví bằng có người nói ngoại ngữ, chỉ nên hai hoặc ba người là cùng; mỗi người phải nói theo lượt mình, và phải có một người thông giải." I Cô-rinh-tô 14:39 "Ấy vậy, hỡi anh em, hãy trông mong ơn nói tiên tri, và đừng ngăn trở chi về điều nói ngoại ngữ." Công Vụ Các Sứ Đồ 2:4 "Hết thảy đều được đầy dẫy Đức Thánh Linh, khởi sự nói các ngoại ngữ, theo như Đức Thánh Linh cho mình nói." I Cô-rinh-tô 14:22 "Thế thì, các ngoại ngữ là một dấu, chẳng cho người tin Chúa, song cho người chẳng tin; còn như lời tiên tri là một dấu, chẳng phải cho người không tin, song cho người tin Chúa."
|
Bài bình luận
Mời xem thêm...
Xin quý bạn đọc xem thêm ý nghĩa về sự kiện được báp-tem bằng Thánh Linh trong bài viết sau đây:
http://thanhkinhthanhoc.net/content/y-nghia-cac-phep-bap-tem-trong-thanh-kinh
Xin xem thêm chi tiết về hiện tượng đặt tay té ngã tại đây:
http://tinlanhbiengiao.net/?q=node/162
Xin xem thêm chi tiết về các phong trào Ân Tứ và Ngũ Tuần tại đây:
Bài 01: http://tinlanhbiengiao.net/?q=node/208
Bài 02: http://tinlanhbiengiao.net/?q=node/209
Admin
Đặt tay té ngã
Hỏi:
Nguồn: http://tinlanhbiengiao.net/?q=node/162