Chuẩn Định Cách Dùng Từ Ngữ Trong Thánh Kinh Việt Ngữ

Kính mời quý vị và các bạn đọc bài viết mới "Chuẩn Định Cách Dùng Từ Ngữ Trong Thánh Kinh Việt Ngữ" tại đây (nhấp vào link):

http://thanhkinhthanhoc.net/content/chuan-dinh-cach-dung-tu-ngu-trong-thanh-kinh-viet-ngu

Trân trọng.

Admin

 


Bài bình luận

Xin kính chào Admin cùng các

Xin kính chào Admin cùng các bạn!

Cám ơn tinlanhvietnam.net đã mở thêm hai trang đặc biệt đó là:

Trang Tản Mạn Về Chữ Nghĩa

Chuẩn Định Cách Dùng Từ Ngữ Trong Thánh Kinh Việt Ngữ

để chúng ta có thể tham khảo,thảo luận  và dẫn đến sử dụng một cách chính xác từ ngữ trong Kinh Thánh hầu cho tránh được những sai lầm và những thói quen của chúng ta đã phạm từ trước đến nay đối với Lời của Chúa ( Thánh Kinh).

Tôi xin được phép nói đến chữ " Từ bi "

1 Đức Chúa Trời ôi! Xin hãy thương xót tôi tùy lòng nhân từ của Chúa;
Xin hãy xóa các sự vi phạm tôi theo sự từ bi rất lớn của Chúa. ( Thi thiên 51:1)

Trước đây có ít nhất hai lần tôi đã được nghe một "Tôi tớ Chúa " ( ms Lê văn Sanh ) chia sẻ :

Khi đọc câu Kinh Thánh trên ông nhắc mọi người đánh dấu chữ " TỪ BI" và nên thay vào đó là "Thương xóT" hay " nhân từ " vì câu "TỪ BI" là dùng trong kinh phật . vậy xin được hỏi như sau:

-  trong Thánh Kinh ở những chỗ khác có dùng thương xót, nhân từ sao chỗ này là "từ bi" ?

- nếu trong Thánh Kinh của chúng ta còn nhiều từ mà kinh nhà phật cũng có thì có cần phải đổi lại không ?

- những câu như : " Phù hộ, phù trợ " ;  " Cứu giúp, vùa giúp " ; " Bố thí, thí của "...có liên quan gì đến tôn giáo kia không?

 

 

Sự Từ Bi Hay Sự Thương Xót?

Thánh Kinh Việt ngữ bản dịch Phan Khôi có hai lần dùng chữ "từ bi." Lần thứ nhất trong Thi Thiên 51:1 và lần thứ nhì trong Thi Thiên 145:9.

"Đức Chúa Trời ôi! xin hãy thương xót tôi tùy lòng nhơn từ của Chúa; Xin hãy xóa các sự vi phạm tôi theo sự từ bi rất lớn của Chúa."

"Đức Giê-hô-va làm lành cho muôn người, Sự từ bi Ngài giáng trên các vật Ngài làm nên."

Trong nguyên ngữ Hê-bơ-rơ, chữ được dịch là "từ bi" trong hai câu Thánh Kinh trên đây là "racham." Từ ngữ này có nghĩa hẹp là "tử cung," nghĩa rộng là "lòng dạ hoặc bên trong," nghĩa bóng là "trinh nữ;" và khi được dùng dưới hình thức số nhiều thì có nghĩa là "sự thương xót kín sâu trong lòng" tương đương với "trắc ẩn" trong tiếng Hán Việt và "compassion" trong tiếng Anh. Bản Thánh Kinh Anh ngữ King James Version dịch là "tender mercies" trong hai câu Thi Thiên nêu trên.

Cũng cùng một chữ đó, bản dịch Phan Khôi đã dịch thành các từ ngữ khác nhau  trong những câu sau đây:

- Thương xót (Giê 42:12; Đa 1:9)
- Lòng thương xót (I Vua 8:50; Nê 9:28; 31; Thi 40:11; 77:9; 145:9; Châm 12:10; Ê-sai 54:7; A-mốt 1:11; Xa 1:16), 
- Sự thương xót (II Sa 24:14; I Sử 21:13; Nê 9:19; Thi 5:6; 69:16; 79:8; 103:4; 119:77, 156; Ê-sai 47:6; 63:7, 15; Giê 16:5; Ca 3:22; Đa 9:9, 18; Ô-sê 2:19; Xa 7:9),

- Lòng nhơn từ (Nê 9:27),
- Sự nhơn từ (Nê 1:11), 

- Ơn (Sáng 43:14; Phục 13:17; II Sử 30:9; Thi 106:46),
- Lòng mẹ (Sáng 49:25; Ê-sai 46:3), 
- Gan ruột cảm động (I Vua 3:26),
- Tấc lòng cảm động (Sáng 43:30),
- Con gái (Phục 5:30),
- Người đàn bà (Châm 30:16)

Chúng ta có thể đổi  "sự từ bi" trong hai câu Thi Thiên nêu trên thành "sự thương xót."

Tim Huỳnh.